NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT CHẾ PHẨM Tricho-VNNTH TẠI VIỆN NÔNG NGHIỆP THANH HÓA

Trichoderma là giống nấm thuộc nhóm nấm bất toàn, thuộc họ Choanophoraceae, bộ Murcorales, lớp Phycomytes. Nấm Trichoderma là một chủng nấm đối kháng có tác dụng cao trong việc tấn công, ký sinh và ức chế nhiều loại bệnh trên cây trồng, rau màu. Khuẩn lạc nấm thường có dạng bông xốp màu trắng, sau có thể chuyển sang màu vàng lục hoặc lục tươi sau chuyển sang lục sẫm. Một số loài làm môi trường nuôi cấy chuyển sang màu vàng do tiết kháng sinh. Cuống bào tử phân nhánh mạnh, thể bình hình chai, đứng riêng lẻ thành từng nhóm, bào tử màu xanh sáng. Nấm Trichoderma phát triển nhanh ở 25 – 300C có một số ít loài Trichoderma tăng trưởng được ở 450C. Mỗi dòng nấm Trichoderma spp. khác nhau sẽ yêu cầu nhiệt độ và độ ẩm khác nhau.

Hình 1: Hình thái từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của nấm Trichoderma

Vòng đời của chủng nấm này khá dài, có thể tồn tại 18 tháng trong môi trường có điều kiện phát triển thuận lợi. Tuy nhiên, nếu bị phơi suốt 2 giờ dưới ánh nắng gay gắt hoặc bị ướt mưa nhiều ngày, chúng vẫn có thể bị hủy diệt một cách dễ dàng.

Cơ chế tác động của nấm Trichoderma và tác dụng của chế phẩm Tricho -VNNTH

Nấm Trichoderma tiết ra một loại enzyme đặc biệt, giúp phá hủy lớp vỏ tế bào của các loại nấm gây hại, tấn công sau vào bên trong và biến chúng thành chất dinh dưỡng. Điều này cho phép Trichoderma vừa có thể bảo vệ cây trồng khỏi các bệnh như chết nhanh chết chậm, bệnh lở cổ rễ, bệnh xì mủ, thối rễ,… vừa phục hồi, tái tạo lại những phần rễ đang bị tổn thương.

Khi được bón vào đất, nấm Trichoderma sẽ tiết ra nhiều chất kích thích để rễ cây ăn sâu vào lòng đất, giúp rễ luôn chắc chắn, đẩy mạnh khả năng hút dinh dưỡng cũng như phòng vệ.

Cộng sinh tốt với mọi loài sinh vật có lợi trong đất, tạo môi trường phát triển thuận lợi cho các vi sinh vật có ích như vi sinh vật phân giải lân, cố định đạm (khuẩn lạc),… giúp đất gia tăng độ tơi xốp.

Trichoderma có khả năng tiết ra enzyme phân hủy các loại phân hữu cơ, rễ cây, mùn và chuyển hóa thành dạng chất mà cây có thể hấp thụ được như: amylase, pectinase, protease, chitinase, enzyme cellulase.

Khi được trộn chung với các loại phân hữu cơ từ xác động vật, phân chuồng trong quá trình ủ, nấm Trichoderma có tác dụng giảm bớt mùi hôi cũng như thúc đẩy tiến trình phân giải, qua đó tiết kiệm được phần lớn thời gian ủ phẩn.

Hình 2: Giải pháp diệt tuyến trùng và nấm bệnh thúc đẩy sự phát triển của cây

Nhận thấy tác dụng và nhu cầu phát triển bền vững của nền nông nghiệp trong tỉnh và trên cả nước, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa đã nghiên cứu sản xuất chế phẩm Tricho –VNNTH và ứng dụng thành công đã được thông qua hội đồng khoa học xét duyệt TCCS cho chế phẩm.

Hình 3: Sản xuất chế phẩm Trichoderma tại Viện Nông nghiệp Thanh Hóa

Hình 3: Sản xuất chế phẩm Trichoderma tại Viện Nông nghiệp Thanh Hóa

Hình 4: Sản phẩm được đóng gói với bao bì đẹp mắt, thân thiện với môi trường

Hình 4: Sản phẩm được đóng gói với bao bì đẹp mắt, thân thiện với môi trường

Trên thực tế, việc sử dụng chế phẩm sinh học sản xuất từ nấm Trichoderma ủ phân hữu cơ để bón cho cây giúp tăng cường hệ vi sinh vật có ích trong đất; chuyển đổi các chất hữu cơ thành dạng dễ hấp thụ, chất lượng phân tốt hơn. Với cây trồng khi sử dụng phân bón từ chế phẩm sinh học sẽ giảm một nửa việc bón phân NPK phân hóa học, tăng hàm lượng Silic trong thân và hạt, làm tăng năng suất lúa và cải thiện độ phì nhiêu cho đất canh tác.

Cách sử dụng chế phẩm Tricho- VNNTH như sau:

– Ủ phân hữu cơ và xử lý giá thể: 1kg chế phẩm trộn với 1 tấn phân chuồng, chất thải hữu cơ, trộn đều, giữ ẩm đống ủ.

– Xử lý đất trước khi trồng: 2 kg chế phẩm xử lý cho 500 m2 đất trồng. Trộn với phân hữu cơ hoai mục hoặc đất bề mặt để bón cho đất trước khi trồng. Giữ ẩm đất trồng (60-70%)

– Tưới trực tiếp vào gốc: 1-2 kg chế phẩm hòa tan vào 200 lít nước tưới vào gốc.

Khi phối trộn chế phẩm Tricho-VNNTH với phân bón hữu cơ cho hiệu quả phòng trừ bệnh cao hơn, góp phần vào định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng hữu cơ, bền vững. Hiện nay chúng tôi hoàn toàn có thể làm chủ quy trình tạo chế phẩm và chuyển giao cho người sản xuất.

Viện Nông nghiệp Thanh Hóa đã được đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm chuyên hoạt động về lĩnh vực vi sinh. Trong đó, có hệ thống trang thiết bị thực hiện việc nghiên cứu và sản xuất chế phẩm vi sinh TrichoVNNTH. Vì vậy sáng kiến đã góp phần hoàn thiện và xác nhận giá trị sử dụng của chế phẩm Tricho-VNNTH phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và nguồn nhân lực hiện có. Từ đó sử dụng nguồn nhân lực, khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hiện các nhiệm vụ và dịch vụ chế phẩm Tricho-VNNTH trong đất cho các trang trại, các hộ gia đình sử dụng thay phân bón hoá học.

Đặc biệt Sản phẩm đã được trưng bày tại Hội nghị kết nối cung cầu và trưng bày giới thiệu sản phẩm nông sản thực phẩm an toàn tỉnh Thanh Hoá năm 2023. Thực hiện Công văn số 5200/SNN&PTNT- QLCL, ngày 05/10/2023 của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thanh Hóa về việc triển khai thực hiện Kế hoạch số 142/KH-UBND ngày 02/6/2023 của UBND tỉnh về tổ chức Hội nghị kết nối cung- cầu và trưng bày giới thiệu sản phẩm nông sản thực phẩm an toàn tỉnh Thanh Hoá. Được sự ghé thăm và chỉ đạo của đồng chí Phó chủ tịch tỉnh Lê Đức Giang.

 Đ/c Phó chủ tịch tỉnh Lê Đức Giang cùng các đồng chí lãnh đạo ghé thăm gian hàng.

Từ kết quả nghiên cứu, trong thời gian tới, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa, sẽ tiếp tục mở rộng sản xuất chế phẩm Tricho-VNNTH phục vụ nhu cầu cho các trang trại, hộ gia đình… sản xuất trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Trichoderma không chỉ cải thiện năng suất và chất lượng cây trồng mà còn góp phần bảo vệ môi trường đất canh tác, an toàn cho người sử dụng, tạo nên thương hiệu Tricho -VNNTH viện Nông nghiệp Thanh Hóa uy tín chất lượng, nâng tầm vị thế trên thị trường trong và ngoài tỉnh.

Ths. Ngô Thị Ánh
Chuyên viên phòng Phân tích và thí nghiệm

Nông dân tất bật gặt lúa mùa, chuẩn bị vụ đông

THANH HÓA – Vụ mùa năm nay tại Thanh Hóa lúa sạch sâu bệnh, năng suất cao hơn năm ngoái nên bà con ai cũng rổn rảng.

Năng suất lúa ước đạt 56 – 57 tạ/ha

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, người dân đang tranh thủ thời tiết thuận lợi, khẩn trương thu hoạch các diện tích lúa vụ mùa 2022. Không khí vui tươi, phấn khởi là điều dễ nhận thấy trên khắp các cánh đồng, đường làng, ngõ xóm khi năng suất vụ mùa năm nay cao hơn so với năm trước.

Ghi nhận tại huyện Quảng Xương, vụ mùa năm nay, toàn huyện gieo cấy 6.600ha, cơ cấu chủ yếu bằng các giống lúa năng suất, chất lượng cao. Đến hiện tại, toàn huyện đã thu hoạch được khoảng 30% diện tích với năng suất ước đạt 59 tạ/ha. Một số xã có tiến độ thu hoạch nhanh như Quảng Trường, Quảng Phúc, Quảng Đức, Quảng Định…

IMG_3911

Nông dân Thanh Hóa đang huy động tối đa nhân lực, phương tiện, máy móc để thu hoạch lúa vụ mùa 2022. Ảnh: Trung Quân.

Bà Phạm Thị Hà, thôn Phú Đa, xã Quảng Đức (Quảng Xương) phấn khởi chia sẻ: Vụ mùa năm nay, lúa được mùa lớn, hơn 3 sào lúa của gia đình bà đều cho năng suất trung bình 3 tạ/sào (so với vụ mùa năm trước chỉ 2 – 2,3 tạ/sào).

Theo bà Hà, vụ mùa năm nay mật độ sâu bệnh hại lúa thấp, cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt nên không phải tiến hành phun trừ, giúp tiết kiệm được nhiều chi phí phân bón và thuốc BVTV.

“Mọi năm đủ các loại sâu bệnh, năm nay lại chẳng thấy, bông lúa to, hạt mẩy, phơi ở giữa đường đi nên ai ngang qua cũng ghé lại xem, hỏi thăm. Giờ chỉ mong thời tiết không mưa để phơi phóng cho được thuận lợi là có vụ mùa hoàn hảo”, bà Hà vui vẻ.

Không giấu được niềm vui khi 1 mẫu lúa của gia đình mình cho năng suất cao, bà Phạm Thị Xuân, thôn Xa Thư, xã Quảng Bình (Quảng Xương) cho biết: Vụ mùa năm nay gia đình bà gieo cấy muộn hơn so với mọi năm nên đầu vụ khá lo lắng. Tuy nhiên, không ngờ cấy muộn lại hay, sâu bệnh hại lúa ít, chỉ có một chút sâu đục thân và chuột. Hiện tại, gia đình bà đã thu hoạch được 70% diện tích với năng suất trung bình đạt 2,8 tạ/sào.

“Vụ mùa năm nay hầu hết bà con ở đây đều được mùa. Hộ nào chịu khó thăm đồng, chăm sóc thì lúa đều đạt năng suất cao, chứ cấy xong để đấy thì năng suất không ăn thua vì chuột cắn phá nhiều, tỷ lệ lúa lép cao”, bà Xuân chia sẻ.

Ông Vũ Quang Trung, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Thanh Hóa thông tin: Vụ mùa 2022 được đánh giá là vụ mùa an toàn về khung thời vụ, mật độ sâu bệnh gây hại thấp, chất lượng lúa được đảm bảo… Theo thống kê, đến hết ngày 14/9, tổng diện tích lúa mùa đã thu hoạch trên địa bàn toàn tỉnh hơn 38.300ha (đạt 33%). Năng suất lúa trung bình ước đạt 56 – 57 tạ/ha (so với vụ mùa 2021 là 55,6 tạ/ha).

z3724338517467_60b7c55bca4c0116232840b23e7776ef

Bà Phạm Thị Hà, thôn Phú Đa, xã Quảng Đức (Quảng Xương), phấn khởi vì năng suất lúa vụ mùa năm nay cao hơn năm trước. Ảnh: Trung Quân.

Theo ông Trung, để bảo vệ năng suất, chất lượng lúa, trong điều kiện thời tiết vẫn có những diễn biến khó lường, ngành nông nghiệp Thanh Hóa đã chỉ đạo các địa phương, đôn đốc người dân bám sát đồng ruộng, huy động nhân lực, các loại phương tiện, máy móc tập trung thu hoạch nhanh, gọn những diện tích lúa đã chín với phương châm “xanh nhà hơn già đồng”.

Bên cạnh đó, giám sát chặt chẽ mức giá thu gặt lúa của các chủ phương tiện, tránh tình trạng nâng ép giá, ảnh hưởng đến thu nhập của bà con nông dân; theo dõi diễn biến của thời tiết, tổ chức ra quân nạo vét các tuyến kênh mương nhằm tạo thuận lợi cho việc tiêu thoát nước khi có mưa lớn xảy ra. Đối với những diện tích lúa chưa đủ điều kiện thu hoạch, xảy ra trường hợp đổ ngã phải kịp thời dựng buộc, tránh hiện tượng bông lúa bị ngâm nước, mọc mầm…

Thu hoạch đến đâu, làm đất xuống giống vụ đông đến đó

Cũng theo ông Vũ Quang Trung, song song với việc khẩn trương thu hoạch vụ mùa, ngành nông nghiệp Thanh Hóa cũng chỉ đạo các địa phương đẩy nhanh tiến độ sản xuất vụ đông với phương châm “thu hoạch tới đâu, giải phóng đất và gieo trồng cây vụ đông đến đó”.

Ông Quang thông tin: Trong vụ đông 2022 – 2023, tỉnh Thanh Hóa triển khai theo chủ trương tái cơ cấu ngành trồng trọt theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững; xác định vụ đông là vụ sản xuất quan trọng đối với tăng trưởng của toàn ngành cho năm tiếp theo. Vì vậy, tỉnh đã xác định sử dụng đối tượng, giống cây trồng có lợi thế, tập trung mở rộng tối đa diện tích, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để gia tăng năng suất…

z3724305698211_2b4888846457c35f56ad5ce9c1c95952

Theo đa số người dân, vụ mùa 2022, mật độ sâu bệnh hại lúa thấp nên tiết kiệm được khá nhiều chi phí phân bón và thuốc BVTV. Ảnh: Trung Quân. 

Các địa phương phấn đấu tăng tối đa diện tích các cây trồng chính như ngô, cây thức ăn chăn nuôi, rau vụ sớm có thể tiêu thụ nội tỉnh; mở rộng diện tích sản xuất các loại rau quả có giá trị kinh tế cao và có thể bảo quản lâu dài, có khả năng thuận lợi trong quá trình vận chuyển không cần phải sơ chế, đóng gói cầu kỳ như bí xanh, khoai lang, hành tỏi, su hào, khoai tây.

Thanh Hóa chủ trương chỉ sản xuất các loại cây trồng phục vụ xuất khẩu khi có hợp đồng và bảo lãnh tiêu thụ nông sản; tính toán rải vụ sản xuất một cách phù hợp cho từng đối tượng cây trồng, tránh hiện tượng thừa thiếu cục bộ.

Bên cạnh đó, gắn sản xuất với chứng nhận an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao giá trị thu nhập cho người dân. Tiếp tục mời gọi và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất trồng trọt vụ đông, hình thành các chuỗi liên kết sản xuất bền vững, sản xuất theo hợp đồng, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Đồng thời, quan tâm xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm; hạn chế tình trạng sản xuất không đáp ứng nhu cầu thị trường hoặc dư thừa nông sản gây thất thiệt cho người sản xuất…

Về thời vụ gieo trồng, đối với nhóm cây ưa ấm, gieo trồng vụ đông sớm, thời vụ gieo trồng kết thúc trước ngày 10/10; nhóm cây ưa lạnh gieo trồng sau ngày 10/10, cây khoai tây tập trung trồng từ 20/10 – 5/11.

Sở NN-PTNT Thanh Hóa đề ra mục tiêu: Tổng diện tích gieo trồng cây vụ đông phấn đấu đạt 46.000ha trở lên. Trong đó, ngô 15.000ha, năng suất 48 tạ/ha, sản lượng 72.000 tấn; khoai lang 2.700ha, năm suất 77 tạ/ha, sản lượng 20.790 tấn; lạc 1.500ha, năng suất 21 tạ/ha, sản lượng 3.150 tấn; rau đậu các loại và cây trồng khác 26.800ha. Tổng giá trị sản xuất vụ đông phấn đấu đạt 3.404 tỷ đồng trở lên, bình quân đạt 74 triệu đồng/ha gieo trồng (tăng 1,4 triệu đồng/ha so với vụ đông 2021 – 2022).

Nguồn: Nongnghiep.vn

Trần Anh Đức (Văn phòng Viện) ST

Giải pháp kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm trong mùa nắng nóng

Những ngày qua thời tiết khí hậu có biến đổi bất thường, thường xuất hiện các đợt nắng nóng kéo dài từ 7-10 ngày, nhiệt độ từ 37-39 độ C, có nơi trên 40 độ C; Sau những đợt nắng nóng thường xuất hiện có mưa, giông bão, thời tiết biến đổi rất khó lường. Với thời tiết này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ đàn gia súc gia cầm, nguy cơ bùng phát dịch bệnh là rất cao.

Để chủ động phòng chống dịch bệnh và nâng cao sức khoẻ cho đàn vật nuôi, người chăn nuôi cần thực hiện tốt một số giải pháp kỹ thuật như sau:

Nhập giống và vận chuyển gia súc, gia cầm

Tốt nhất nhập giống ở những cơ sở sản xuất giống có uy tín, đủ điều kiện, không nhập ở những nơi đang có dịch bệnh. Cần kiểm tra kỹ về chất lượng giống cũng như việc tiêm vắc xin phòng bệnh.

Việc vận chuyển giống về địa phương cần thực hiện tốt quy trình kiểm dịch vận chuyển theo quy định. Khi vận chuyển gia súc gia cầm trong những ngày nắng nóng nên thực hiện vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát. Nếu vận chuyển đường dài chú ý cho gia súc gia cầm nghỉ ngơi hợp lý, vào các thời điểm buổi trưa nên để gia súc gia cầm vào nơi mát, bổ sung thức ăn, nước uống cũng như kiểm tra sức khỏe con vật trong quá trình vận chuyển. Nên giãn mật độ nhốt gia súc gia cầm trên phương tiện vận chuyển, đồng thời che chắn làm mát cho gia súc gia cầm ngay trên phương tiện vận chuyển như để cành cây nhiều lá trên xe, có đệm lót tốt, có bạt che ánh nắng mặt trời xung quanh phương tiện…

Chuồng trại và hệ thống làm mát

Hàng ngày phải vệ sinh sạch sẽ khu vực chuồng nuôi, khu chăn thả, sân vận động với trâu bò. Khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm để tránh ruồi muỗi, côn trùng, không để nước đọng và định kỳ phun thuốc sát trùng để hạn chế, ngăn chặn mầm bệnh.

Chủ động che chắn chuồng trại để đảm bảo có độ phủ mát tốt. Thường xuyên kiểm tra hệ thống làm mát trong chuồng nuôi gia súc gia cầm. Kịp thời cải tạo, sửa chữa, nâng cấp đảm bảo cho các hệ thống làm mát sử dụng tốt. Với các trại chăn nuôi có chuồng kín cần kiểm tra và thực hiện nghiêm việc trực kỹ thuật, đề phòng mất điện hoặc các hệ thống làm mát trong chuồng nuôi bị trục trặc, lỗi kỹ thuật, không đảm bảo vận hành. Nên lắp đặt các hệ thống báo động tự động để kịp thời giải quyết, khắc phục các sự cố về kỹ thuật xảy ra. Với chuồng nuôi bò sữa có hệ thống làm mát trong chuồng nuôi (kể cả hệ thống trong chuồng và hệ thống trên mái). Đảm bảo vận hành tốt hệ thống chống nóng tự động trong chuồng nuôi cũng như trên mái. Thường xuyên kiểm tra nguồn nước làm mát, hệ thống quạt điện để bò sữa luôn được mát.

Chế độ dinh dưỡng cho gia súc gia cầm

Những ngày nắng nóng con vật thường có nhiều biến đổi trong quá trình hấp thu, trao đổi chất, việc ăn uống của con vật có nhiều thay đổi không bình thường vì vậy cần tăng cường chế độ dinh dưỡng và bổ sung các loại khoáng (Premix khoáng, Vitamin để nâng cao sức đề kháng cho con vật.

Đảm bảo nghiêm ngặt chế độ nước uống đủ và sạch cho gia súc gia cầm, những ngày nắng nóng nhu cầu cần nước trong cơ thể con vật là rất lớn nên tốt nhất là lắp đặt hệ thống nước uống tự động cho con vật trong chuồng nuôi. Hàng ngày kiểm tra thường xuyên lượng nước cung cấp và vệ sinh nguồn nước. Với trâu, bò, bò sữa cần tăng cường các loại thức ăn thô xanh, một số thức ăn ủ chua đảm bảo cho con vật đủ no và tăng cường quá trình trao đổi chất thông qua tập tính nhai lại ở trâu bò.

Mật độ nuôi

Những ngày nắng nóng cần giãn mật độ nuôi nhốt trong chuồng nuôi đối với gia súc gia cầm để tạo sự thông thoáng và cân bằng dưỡng khí trong chuồng nuôi. Lưu ý trong chăn nuôi gia cầm, điều này rất quan trọng nhằm hạn chế dịch bệnh và các bệnh về hô hấp (mật độ trung bình chăn nuôi gà thịt tốt nhất là 6 – 8 con/m2, với trâu bò đảm bảo 4 – 6 m2/con).

Khi vận chuyển gia súc, gia cầm cũng lưu ý giảm mật độ trên xe so với ngày bình thường để tạo độ thông thoáng trên phương tiện vận chuyển.

Tiêm phòng và xử lý gia súc, gia cầm có biểu hiện không bình thường

Cần kiểm tra việc tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm, trường hợp đến kỳ tiêm phòng phải tiêm phòng ngay để chủ động tạo miễn dịch cho đàn gia súc, gia cầm. Khi tiêm phòng chú ý kiểm tra đàn gia súc, gia cầm khoẻ mạnh mới tiêm phòng. Thời điểm tiêm phòng tốt nhất là vào sáng sớm và chiều mát để đảm bảo chất lượng vắc xin, tránh phản ứng, tạo miễn dịch tốt cho con vật khi tiêm phòng.

Những ngày nắng nóng cần tăng cường hơn việc kiểm tra theo dõi đàn gia súc, gia cầm. Trường hợp thấy gia súc, gia cầm có những biểu hiện không bình thường cần tách đàn nhốt riêng để kiểm tra, theo dõi và điều trị. Nếu số lượng nhỏ (một vài con) không thấy biểu hiện lây lan thì áp dụng việc cho uống thuốc trợ sức trợ lực, tạo sự thoáng mát cho con vật, khi trở lại bình thường, con vật khoẻ mạnh cho nhập đàn. Trường hợp thấy gia súc gia cầm có biểu hiện triệu chứng nặng (khó thở, ho, sốt, ủ rũ, đi lại không bình thường…) có biểu hiện lây lan, cần báo ngay cán bộ thú y cơ sở để có biện pháp can thiệp kịp thời.

Nguồn khuyennongvn.gov.vn

ST. Trần Anh Đức
Văn phòng Viện

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG MỘT SỐ LOẠI NÔNG SẢN CHỦ LỰC TRONG TỈNH VÀ CẢ NƯỚC QUÝ I/2022

  1. Các sản phẩm từ cây có hạt: lúa, gạo, ngô…

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gạo tháng 1/2022 đã bật tăng mạnh 45,4% về lượng, tăng 28,2% về trị giá so với tháng 1/2021, đạt lần lượt 505.741 tấn và 246 triệu USD. Tuy nhiên, giá gạo xuất khẩu trung bình trong tháng đầu năm 486,5 USD/tấn, giảm 11,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tại thị trường trong nước, trong tháng 02/2022, giá lúa gạo bán buôn có xu hướng tăng nhẹ. Gía lúa gạo nếp trong tháng 1/2022 có xu hướng tăng nhanh vào thời điểm cận kề dịp tết nguyên đán do nhu cầu sử dụng gạo nếp làm nguyên liệu chính để làm các loại bánh truyền thống như: bánh trung, bánh tét… Cụ thể, lúa thường tại ruộng cao nhất là 5.600 đồng/kg, giá bình quân là 5.429 đồng/kg, tăng 18 đồng/kg. Giá lúa thường tại kho cao nhất 6.950 đồng/kg, trung bình là 6.420 đồng/kg, tăng 20 đồng/kg. Giá các mặt hàng gạo cũng không có biến động mạnh. Giá gạo 5% tấm có giá cao nhất 9.450 đồng/kg, giá bình quân 9.177 đồng/kg, giảm 7 đồng/kg. Gạo 15% tấm vẫn ổn định với giá cao nhất 9.250 đồng/kg, giá bình quân 8.933 đồng/kg. Gạo 25% tấm có giá cao nhất 9.050 đồng/kg, giá bình quân 8.642 đồng/kg, tăng 8 đồng/kg. Riêng gạo xát trắng loại 1 có giá trung bình là 9.133 đồng/kg, giảm 50 đồng/kg. Trước tình hình dịch bệnh kéo dài gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhiều mặt dự báo giá gạo nếp thành phẩm xuất ra thị trường năm nay chỉ giữ ở mức ổn định và có thể giảm hơn nữa. Sản phẩm ngô ngọt và ngô làm thức ăn chăn nuôi trên thế giới có xu hướng tăng giá mạnh do đứt gãy nguồn cung từ Nga và Ukraine.

Tại thị trường trong tỉnh, nhìn chung giá lúa, gạo trong tỉnh vẫn giữ ở mức ổn định, nguồn cung gạo các loại tương đối dồi dào, thị trường không xảy ra tình trạng mất cân đối cung cầu. Một số loại gạo ngon như: tám thơm, bắc thơm giá tăng nhẹ do nhu cầu tiêu thụ tăng nhanh trong những ngày đầu tháng 02/2022. Giá ngô nguyên liệu nhập vào trong nước cũng vì thế tăng lên 8000 đồng/kg.

Một số nhận định, dự báo giá cả và nhu cầu tiêu thụ:

Các chuyên gia dự báo, xuất khẩu gạo nhiều khả năng tăng từ tháng 3/2022, khi vụ Đông Xuân cho thu hoạch rộ, nguồn cung lúa gạo sẽ tương đối dồi dào nên nhiều khả năng giá lúa gạo trong quý 1/2022 có xu hướng bình ổn hoặc có thể giảm nhẹ.

Nhu cầu tiêu dùng các loại gạo ở cả trong và ngoài nước trong quý I/2022 là tương đối lớn, nhất là khi các hoạt động sản xuất kinh tế bắt đầu trở lại sau thời gian dài giãn cách xã hội vì dịch Covid 19. Tại thị trường lúa gạo Thanh Hóa, thương hiệu sản phẩm gạo Ngọc Phố, nếp cái hoa vàng Qúy Hương của công ty CP Thương mại Sao Khuê đang rất được người dân trong và ngoài tỉnh tin tưởng sử dụng. Đây là 2 sản phẩm gạo chủ lực của công ty được đánh giá cao về chất lượng và đã tham dự nhiều các cuộc hội chợ trong và ngoài nước, rất có tiềm năng có thể xuất khẩu sang môt số thị trường nước ngoài khó tính như: Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước châu Âu…Khi các hoạt động sản xuất trở lại, nhất là công cuộc tái đàn nghành chăn nuôi của tỉnh và cả nước bắt đầu phục hồi mạnh mẽ, mặt khác, Việc đứt gãy nguồn cung nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đã khiến các doanh nghiệp quay lại trông chờ sản lượng trong nước. Bộ NN-PTNT từng khuyến khích nông dân chuyển đổi một số vùng trồng lúa để chuyển sang trồng bắp nhưng suốt một thời gian dài diện tích bắp cả nước vẫn giảm do không cạnh tranh được với bắp nhập khẩu. Dự báo nhu cầu tiêu thụ ngô nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi trong cả nước bắt đầu tăng mạnh khiến giá ngô nguyên liệu có thể tăng cao trong thời gian sắp tới.

  1. Giá sản phẩm rau quả:

Tính đến đầu năm 2022, hoạt động trồng trọt trên cả nước diễn ra trong điều kiện thuận lợi so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 3/2022, giá rau tại một số tỉnh, thành phố tăng nhẹ so với tháng trước do cuộc khủng hoảng tại Ukraine khiến giá xăng dầu leo thang nhanh chóng, khiến chi phí sản xuất, vận tải tăng cao dẫn đến giá cả một số mặt hàng rau củ quả tăng mạnh. Tại Hà Nội, giá một số loại rau ăn lá (như rau ngót, rau muống) tăng mạnh. Xu hướng này xảy ra tương tự tại một số tỉnh thành trong cả nước. Trong khi đó, đối với mặt hàng quả: giá dừa tươi tại Bến Tre ổn định hơn so với tháng trước.

Những tháng cuối quý I/2022, tình hình dịch bệnh Covid-19 bước sang một giai đoạn mới, Chính phủ đã ban hành nhiều biện pháp mới nhằm thích ứng với dịch bệnh cùng với phát triển kinh tế. Nhiều hoạt động sản xuất kinh tế tại nhiều tỉnh thành đã hoạt động bình thường trở lại. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng được đẩy mạnh khiến nguồn cung các sản phẩm rau củ quả trong và ngoài nước tương đối dồi dào.

Thị trường trong tỉnh do kiểm soát tốt được tình hình dịch bệnh, tình trạng khan hiếm thực phẩm không xảy ra, nên giá cả các mặt hàng nông sản trên địa bàn tỉnh không biến động nhiều. Tuy nhiên do ảnh hưởng bởi việc giá xăng dầu tăng cao nên nhiều mặt hàng rau củ quả giá cũng tăng mạnh bắt đầu vào giữa tháng 2/2022.

Một số nhận định, dự báo giá cả và nhu cầu tiêu thụ:

Trong những tháng tiếp theo năm 2022, xuất khẩu rau quả của Việt Nam tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Xu hướng tích cực này có được một phần nhờ kinh nghiệm phòng chống dịch bệnh, Việt Nam đã điều hành hoạt động xuất khẩu thông suốt, không xảy ra tình trạng ùn ứ, đặc biệt tại các cửa khẩu. Bên cạnh đó, sự vào cuộc tích cực của các Bộ ban ngành, địa phương đã mang lại kết quả khả quan, hứa hẹn những thuận lợi trong thời gian tới. Tuy nhiên với tình hình chiến sự tại Ukraine đang diễn biến phức tạp kéo theo giá xăng dầu sẽ tăng cao trong những tháng tiếp theo dẫn đến giá giả một số mặt hàng rau củ quả có thể tăng nhẹ. Dự báo nhu cầu tiêu thụ rau củ quả trong và ngoài tỉnh có xu hướng giảm nhẹ. Ngoài các sản phẩm nông sản xuất thô như hàng năm, có thế kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các dây chuyền sản xuất chế biến khép kín đóng gói sản phẩm để gia tăng giá trị cho nhiều loại sản phẩm như: dứa gai, cam, ổi…

  1. Giá sản phẩm chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản:

Tại thị trường trong nước, trong tháng 2/2022, giá lợn hơi biến động giảm nhẹ tại các khu vực. Tại miền Bắc, giá lợn hơi dao động trong khoảng giá từ 54.000 – 58.000 đồng/kg. Các tỉnh phía bắc được ghi nhận mức giao dịch thấp nhất khu vực ở mốc 54.000 đồng/kg. Đối với các sản phẩm gia cầm bán tại trại, giá gà thịt lông màu đều tăng nhẹ ở các địa phương, trong khi đó giá gà công nghiệp tăng nhẹ ở miền Bắc, giá giữ ổn định trong tháng 5, tháng 6. Các mặt hảng thủy hải sản giá cả có xu hướng tăng nhẹ tại các thị trường tiêu thụ lớn trong nước như: Hà Nôi, Hải Phòng, TP.HCM…

Thị trường trong tỉnh ghi nhận biến động không nhiều. Giá các mặt hàng thịt bò, thịt gia cầm, trứng gia cầm tăng nhẹ do nhu cầu thị trường dịp tết nguyên đán đối với những mặt hàng này gia tăng đáng kể, giá lợn hơi trong tỉnh vẫn ở mức thấp do nguồn cung thịt lợn đã ổn định do nghành nông nghiệp đã đẩy mạnh công tác tái đàn, đồng thời dịch tả lợn Châu Phi cũng đã được kiểm soát chặt. Vào những ngày đầu tháng 3/2021 giá lợn hơi tại trại dao động từ 54.000 – 58.000 đồng/kg, thịt lợn bán lẻ tại chợ có giá 105.000 đồng/kg ba chỉ rút xương, 100.000 đồng/kg thịt nạc vai và thịt nạc mông, 105.000 đồng/kg thịt thăn. Giá cả các mặt hàng thủy hải sản trong tỉnh như: tôm, mực, cá nước mặn… cũng biến động nhẹ, có xu hướng tăng dần vào những ngày cuối tháng 3 do nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này bắt đầu tăng do sắp bước vào hè.

Một số nhận định, dự báo giá cả và nhu cầu tiêu thụ:

Dự báo giá thịt lợn hơi sẽ vẫn giữ ở mức thấp và giá có thể sẽ tăng nhẹ lên mức 57.000 – 60.000 đồng/kg vào những tháng quý II/2022 do giá xăng dầu tăng cao khiến chi phí sản xuất, vận chuyển tăng. Thịt trâu, bò ổn định giá và có thể tăng nhẹ vào đầu tháng 4/2022. Các tháng tới giá sản phẩm gia cầm và trứng sẽ duy trì mức ổn định. Các mặt hàng thủy hải sản giá bắt đầu tăng nhanh khi bước vào những tháng giữa quý II/2022.

Nhu cầu thị trường thịt lợn hơi trong và ngoài tỉnh cũng vẫn sẽ duy trì ở mức ổn định và có thể tăng nhẹ vào quý II/2022. Các sản phẩm thịt khác như: thịt trâu, thị bò, thịt gia cầm, trứng gia cầm…vẫn sẽ duy trì mức ổn định theo giá chung cả nước. Sản phẩm thịt lợn, thịt gia cầm của các trang trại nuôi liên kết tiêu thụ với công ty CP, Phú Gía… có khả năng cao có thể xuất khẩu sang các thị trường có nhu cầu tiêu thụ lớn nhưng không đòi hỏi quá cao về chất lượng thịt như: Trung Quốc, Hàn Quốc… và một số nước khác ở Đông Nam Á.

  1. Sản phẩm Tre, luồng, vầu

Tại thị trường trong nước ghi nhận từ đầu năm 2022 đến nay giá cá các sản phẩm tre, luồng, vầu có xu hướng giảm nhẹ do nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm làm từ vật liệu này có xu hướng giảm nhẹ do dịch bệnh và biến động chính trị tại một số nước thị trường châu Âu. Tại thị trường trong tỉnh, ghi nhận tại huyện Quan Sơn (là một trong những địa phương có sản lượng tre, luồng lớn nhất cả tỉnh) Trước đây, cây luồng được thương lái thu mua khoảng 10.000 đồng/10 kg, thế nhưng nay chỉ còn 7.000 – 8.000 đồng/10 kg. Cây vầu giá thu mua giảm từ 230.000 đồng xuống còn 180.000 đồng/100 kg. Do ảnh hưởng dịch bệnh COVID-19, các doanh nghiệp, công ty trên cả nước đã giảm nhập hàng lâm sản từ cơ sở.

Một số nhận định, dự báo giá cả và nhu cầu tiêu thụ:

Tình hình chiến sự tại Ukraine vẫn diến biến vô cùng phức tạp và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, giá xăng dầu tăng cao dẫn đến tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động. Người dân tại các nước là thị trường chính xuất khẩu của các sản phẩm làm từ tre, vầu… bắt đầu thắt giảm chi tiêu dẫn đến nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm làm từ tre, vầu… giảm mạnh. Thậm chí các thị trường đang có chiến sự căng thẳng như Ukraine, Nga… có thể bị gián đoạn một thời gian dài do lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Nga. Tại thị trường trong và ngoài tỉnh dự báo giá cả các mặt hàng tre, luồng có thể giảm nhẹ do ảnh hưởng bởi dịch bệnh và tình hình chung của thế giới. Tuy nhiên giá có thể phục hồi vào những tháng tiếp theo nếu giá xăng dầu vẫn tăng cao như hiện nay dẫn đến chi phi sản xuất, vận chuyển tăng cao.

  1. Gỗ và các sản phẩm làm từ gỗ

Trong năm vừa qua, sự tiếp nối có hiệu lực của các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-châu Âu (EVFTA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Vương quốc Anh (UKVFTA), Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã tạo điều kiện cho các phân ngành của nông nghiệp Việt Nam phát triển, thêm nhiều lợi thế trong tiếp cận các thị trường khó tính, cũng như gia tăng sức cạnh tranh đối với nhiều mặt hàng cùng loại của các quốc gia khác. Trong những ngành hàng này, ngành chế biến và xuất khẩu gỗ cũng không ngoại lệ. Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, trong những tháng đầu năm 2022, hầu hết các mặt hàng đồ nội thất bằng gỗ xuất khẩu vào thị trường Anh đều tăng mạnh. Dẫn đầu là mặt hàng đồ nội thất phòng khách và phòng ăn. Tiếp theo là mặt hàng đồ nội thất phòng ngủ, ghế khung gỗ…Tại thị trường trong tỉnh giá nguyên liệu đầu vào vẫn giữ mức ổn định và có thể tăng nhẹ do giá xăng dầu tăng cao. Các mặt hàng làm từ gỗ như: bàn, ghế, tấm ép… vẫn giữ giá ở mức ổn định.

Một số nhận định, dự báo giá cả và nhu cầu tiêu thụ:

Theo diễn biến ứng phó dịch bệnh COVID-19 của các quốc gia trên thế giới, các chuyên gia kinh tế dự báo kinh tế toàn cầu sẽ dần phục hồi, tăng trưởng trở lại trong năm 2022. Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ gỗ của các quốc gia trên thế giới tăng lên, vốn FDI vào Việt Nam cũng ngày càng tăng, cộng với sự chủ động về công nghệ sản xuất và nguyên liệu gỗ đầu vào sẽ là động lực cho hoạt động chế biến, xuất khẩu gỗ Việt Nam. Tuy nhiên nghành chế biến và xuất khẩu gỗ của nước ta vẫn sẽ gặp phải những khó khăn nhất định. Một khó khăn lớn nhất trong năm 2021 được dự báo có thể kéo dài đến hết quý 1/2022 là tình trạng thiếu tàu vận tải biển, thiếu container, giá cước phí vận tải đường biển tăng quá cao dẫn tới đứt gãy chuỗi cung ứng hoàng hóa đầu vào và đầu ra của các doanh nghiệp. Tại thị trường trong tỉnh nhu cầu tiêu thụ gỗ và các sản phẩm làm từ gỗ có thể sẽ tăng cao do các hoạt động sản xuất dần đi vào hoạt động bình thường sau đại dịch Covid-19 kết hợp với tình hình giá căng dầu tăng mạnh như hiện tại dẫn đến giá các mặt hàng làm từ gỗ có thể tăng nhẹ trong các tháng tới đây.

BẢNG THAM KHẢO GIÁ CÁC SẢN PHẨM NÔNG, LÂM, THỦY SẢN TÍNH ĐẾN NGÀY 25/03/2022

                                                                                            (ĐVT: 1000 VNĐ)

  SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP ĐVT GIÁ THÁNG 1 GIÁ THÁNG 2 GIÁ THÁNG 3 GIÁ TB CẢ TỈNH GIÁ TB CẢ NƯỚC
I Sản phẩm thủy, hải sản            
1 Ngao Kg ( bán lẻ) 22 20 25 22.3 22
2 Cua bể Kg ( bán lẻ) 350 360 370 360.0 380.5
3 Cua đồng Kg ( bán lẻ) 15 16 15 15.3 15
4 Cá Rô Phi Kg ( bán lẻ) 25 30 35 30.0 29.5
6 Cá Thu tươi Kg ( bán lẻ) 185 190 210 195.0 185
7 Ghẹ đỏ Kg ( bán lẻ) 400 410 400 403.3 405
8 Cá chim trắng nước ngọt Kg ( bán lẻ) 40 45 50 45.0 41.2
9 Cá chép Kg ( bán lẻ) 55 60 60 58.3 56.5
10 Mực trứng Kg ( bán lẻ) 200 210 210 206.7 202.8
11 Tôm Sú Kg ( bán lẻ) 210 220 225 218.3 215.4
II Sản phẩm chăn nuôi            
1 Gà ta Kg ( bán lẻ) 110 115 110 111.7 112
2 Gà công nghiệp sống đã làm sẵn Kg ( bán lẻ) 75 75 70 73.3  

72.5

3 Vịt sống Kg ( bán lẻ) 50 65 65 60.0 58.9
4 Thịt bò Kg ( bán lẻ) 230 250 250 243.3 245.5
5 Thịt lợn hơi Kg 54 55 54 54.3 55
6 Trứng gà ta Quả 3 3 3.3 3.1 3.2
7 Trứng gà công nghiệp Quả 3 2.7 2.5 2.7 3
8 Trứng vịt thường Quả 3 3 3 3.0 3
III Sản phẩm trồng trọt            
  Sản phẩm cây có hạt            
1 Gạo Si Kg ( bán lẻ) 13 13 14 13.3 13.5
2 Gạo Quy Năm Kg ( bán lẻ) 10 11 14 11.7 11.5
3 Gạo Tám Thơm Kg ( bán lẻ) 18 18 19 18.3 18
4 Gạo Khang Dân Kg ( bán lẻ) 11 12 12 11.7 11.2
5 Gạo Bắc Thơm Kg ( bán lẻ) 17 17 17 17.0 17.1
6 Gạo nếp cái hoa vàng Kg ( bán lẻ) 35 35 35 35.0 33.6
7 Ngô nếp Chục 35 40 40 38.3 40
8 Ngô ngọt Chục 35 35 36 35.3 34.5
9 Khoai lang vàng Kg ( bán lẻ) 25 30 30 28.3 26.5
10 Đậu tương Kg ( bán lẻ) 25 25 25 25.0 25
11 Đậu đen Kg ( bán lẻ) 38 40 40 39.3 39
12 Lạc Kg ( bán lẻ) 55 45 55 51.7 50.5
  Sản phẩm cây ăn quả            
1 Cam Sành Kg ( bán lẻ) 30 35 40 35.0 34.5
2 Dưa hấu Kg ( bán lẻ) 10 13 15 12.7 11.7
3 Ổi Kg ( bán lẻ) 15 20 20 18.3 17.1
4 Xoài Kg ( bán lẻ) 23 23 23 23.0 22.3
5 Dứa gai Kg ( bán lẻ) 10 12 12 11.3 10.5
6 Thanh long Kg ( bán lẻ) 30 30 30 30.0 32.3
7 Kg ( bán lẻ) 40 35 40 38.3 36.9
  Sản phẩm Rau, củ đậu các loại            
1 Hành khô Kg ( bán lẻ) 35 40 40 38.3 37.7
2 Tỏi Kg ( bán lẻ) 30 35 36 33.7 33.2
3 Gừng Kg ( bán lẻ) 40 42 50 44.0 46.1
4 Nghệ Kg ( bán lẻ) 22 20 24 22.0 21.5
5 Xả Kg ( bán lẻ) 20 20 22 20.7 19.8
6 Dưa chuột Kg ( bán lẻ 12 14 15 13.7 12
7 Cà chua Kg ( bán lẻ) 15 16 18 16.3 15.2
8 Cà rốt Kg ( bán lẻ) 15 15 18 16.0 16.3
9 Hành tây Kg ( bán lẻ) 30 30 31 30.3 30
10 Khoai sọ Kg ( bán lẻ) 30 30 32 30.7 31.5
11 Khoai tây Kg ( bán lẻ) 18 22 23 21.0 21.3
12 Bắp cải Kg ( bán lẻ) 14 15 16 15.0 12.5
13 Chanh quả Kg ( bán lẻ) 20 20 17 19.0 17.5
14 Rau cải chíp Kg ( bán lẻ) 15 15 15 15.0 15.5
15 Củ cải Kg ( bán lẻ) 15 15 16 15.3 14.5
  Sản phẩm tre, luồng, vầu            
1 Luồng Kg ( bán lẻ) 1.5 1.6 1.6 1.56 1.65
2 Vầu Kg ( bán lẻ) 4 4 4 4 4.22
  Gỗ và các sản phẩm từ gỗ            
  Gỗ keo non M3 (bán buôn) 496 501 499 498.66 502.78
  Gỗ keo trung bình M3 (bán buôn) 1150 1100 1150 1133.33 1195.23
  Gỗ keo già M3 (bán buôn) 4500 4700 4500 4566.66 5068.55

Mạnh Tùng

Trạm Kết Nối Cung Cầu và Hội chợ triển lãm- Trung tâm tư vấn quy hoạch Thị trường và chiến lược PTNN

Tiêu huỷ gần 1.000 con lợn nhập từ Thái Lan vì mắc dịch tả châu Phi

Lô lợn gần 1.000 con nhập từ Thái Lan bị buộc tiêu huỷ vì mắc dịch tả lợn châu Phi. Ảnh: CL.

Lô lợn gần 1.000 con nhập từ Thái Lan bị buộc tiêu huỷ vì mắc dịch tả lợn châu Phi. Ảnh: CL.

Ngày 23/5, Chi Cục Thú y vùng III phối hơp với các đơn vị chức năng tỉnh Quảng Trị vừa tiến hành tiêu huỷ gần 1.000 con lợn nhập khẩu từ Thái Lan.

Cụ thể, 980 con lợn được Công ty TNHH Một thành viên Senat (địa chỉ xóm Quán, xã Thanh Ninh, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên) nhập khẩu từ Thái Lan về Việt Nam qua Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo vào ngày 19/5.

Sau khi nhập khẩu, lợn được đưa về cách ly tại một trang trại nằm ở thôn Tân Định, xã Cam Thành (huyện Cam Lộ, Quảng Trị).

Kết quả kiểm tra, xét nghiệm cho thấy, số lợn này dương tính với vi rút gây bệnh dịch tả Châu Phi.

Vào ngày 21/5, Cục Thú y đã có quyết định xử phạt Công ty TNHH Một thành viên Senat số tiền 100 triệu đồng vì nhập khẩu lợn bị bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và buộc tiêu hủy toàn bộ lô hàng.

Do số lượng lợn quá nhiều, đến 2h ngày 22/5, việc tiêu huỷ mới hoàn thành do số lượng lợn mắc bệnh nhiều.

Nguồn: Báo Nông nghiệp

Ứng dụng KHCN trong thụ tinh nhân tạo để cải tạo nâng cao tầm vóc, chất lượng đàn trâu, bò

Ứng dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo (TTNT) trên đàn trâu, bò đã và đang giúp cải tạo đáng kể tầm vóc đàn gia súc của địa phương. Hầu hết con lai F1 sau khi được sinh ra bằng phương pháp TTNT đều có tầm vóc cao hơn so với giống gia súc địa phương từ 20-30%. Hơn nữa, phương pháp này còn giúp tăng nhanh đàn trâu, bò lai và khả năng di truyền, cho phép sử dụng rộng rãi những giống đực có năng suất cao đến các hộ, trang trại chăn nuôi gia súc. Từ đó, tạo bước đột phá trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình chăn nuôi.

Từ năm 2011, Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa (nay là Trung tâm Khảo Nghiệm và Dịch vụ vật Nuôi trực thuộc Viện Nông nghiệp Thanh Hóa) đã nghiên cứu sáng tạo giải pháp "Sử dụng công nghệ lai tạo và một số giải pháp kỹ thuật để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất của đàn trâu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa". Thực hiện giải pháp đã cho tỷ lệ đậu thai đạt 50%, Nghé lai F1 sinh ra có khả năng sinh trưởng, thích nghi rất tốt với điều kiện chăn nuôi của Thanh Hóa, cho tỷ lệ sinh trưởng cao hơn 15 % khối lượng cơ thể so với giống trâu nội. Giải pháp đã đạt giải nhì toàn quốc tại Cuộc thi Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật toàn quốc VIFOTECK năm 2011. Bên cạnh đó, việc thực hiện đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh“Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản suất tinh trâu cọng rạ phục vụ công tác cải tạo, nâng cao tầm vóc đàn trâu tại  Thanh Hoá” đã đầu tư cở sở vật chất, trang thiết bị và du nhập trâu đực giống Murrah để huấn luyện khai thác tinh trâu đông lạnh, sản phẩm tinh trâu đông lạnh được thí nghiệm phối giống cho đàn trâu cái nội tại huyện Thọ Xuân và thị xã Bỉm Sơn. Kết quả đã tạo được sản phẩm nghé lai F1 sinh ra có ngoại hình mang đặc trưng của giống Murrah, khối lượng tăng cao hơn so với  trâu nội 15%. Từ kết quả có được, Trung tâm đã tổ chức nhiều đợt tập huấn, hướng dẫn cho người dân chăn nuôi trâu trên địa bàn tỉnh về công nghệ thụ tinh nhân tạo (TTNT) bằng tinh trâu cọng rạ giống Murrah, sau 10 năm (từ năm 2011 đến năm 2020) áp dụng công nghệ tỷ lệ đàn trâu lai trên địa bàn tỉnh đã đạt 30% (Tổng đàn toàn tỉnh hiện nay khoảng 180.000 con, trong đó có 54.000 trâu lai).

Với đàn bò lai, kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học Công nghệ cấp tỉnh “Đánh giá khả năng sinh trưởng và chống chịu bệnh của bê lai F1 đực BBB x Cái lai Zebtrên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, giai đoạn 2015 – 2018 đã tạo Bò lai F1 BBB được thị trường ưu chuộng, hiệu quả  kinh tế cao hơn giống bò Brahman 25%. Đến nay đã đào tạo nhiều kỹ thuật viên dẫn tinh làm công tác TTNT, tập huấn nhiều đợt cho người dân chăn nuôi bò cái sinh sản kỹ thuật TTNT bằng tinh đông lạnh giống bò đực BBB nhập khẩu. Kết quả bò lai chiếm hơn 60% tổng đàn bò trên địa bàn tỉnh (tổng đàn bò trên địa bàn tỉnh khoảng 204.000 con) trong đó, đặc biệt đã lại tạo được giống bò lai cao sản chiếm 10% ( khoảng 20.000 con) bằng các giống bò thịt như Droughmaster và BBB.

Việc ứng dụng phương pháp TTNT đã và đang giúp nhiều hộ chăn nuôi trâu, bò nâng cao được tầm vóc con nuôi, từ đó nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Chẳng hạn, gia đình bà Lê Thị Mận, xã Xuân Thành, huyện Thường Xuân cho thấy: trước đây, đàn bò cái của gia đình bà đều được phối giống bằng phương pháp truyền thống. Năm 2016, được sự hỗ trợ của cán bộ thú y xã, gia đình bà đã sử dụng tinh bò Brahman để thực hiện TTNT. Sau khi bò cái được phối có chửa, gia đình bà kết hợp cho ăn thức ăn tự nhiên và thức ăn hỗn hợp trong cả quá trình mang thai. Nhờ đó, bê con sinh ra có ngoại hình to, khỏe, lớn nhanh, đạt năng suất cao hơn khoảng 20-25% so với bò địa phương. Tại huyện Thiệu Hóa, việc phối tinh bò BBB với bò cái nền zebu đã giúp tỷ lệ phối giống đạt cao, bê lai thế hệ F1 sinh ra có trọng lượng phù hợp, khỏe mạnh, thích nghi tốt với điều kiện môi trường sống, dễ nuôi, tạp ăn, tốc độ sinh trưởng cao, bình quân đạt 20-24 kg/tháng. Bê lai có chất lượng thịt thơm, ngon, mềm. Để đẩy mạnh công tác TTNT, nâng cao tầm vóc cho đàn trâu, bò trên địa bàn, huyện tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ tinh trâu, tinh bò ngoại cho các hộ chăn nuôi phối bằng phương pháp TTNT với giống trâu, bò cái địa phương để tạo ra con lai có tầm vóc, năng suất cao. Đồng thời, hỗ trợ 1 phần kinh phí cho các hộ dân mua bò đực lai F1 BBB để thuần dưỡng, sau đó lựa chọn bò cái nền zebu trên 75% máu ngoại, có ngoại hình đẹp, trọng lượng đạt từ 280 kg trở lên để phối giống.

Từ những thành công trên, ngày 29/10/2019, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định số 4435/QĐ-UBND về việc nhập khẩu bò đực sản xuất tinh cọng rạ đông lạnh phục vụ chương trình cải tạo, nâng cao tầm vóc đàn bò trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Hiện tại đã nhập khẩu bò đực nuôi tân đáo tại Viện Nông nghiệp Thanh Hóa. Với trang thiết bị hiện đại được UBND tỉnh Thanh Hóa đầu tư phục vụ công tác lưu giữ, sản xuất tinh cọng rạ. Dự kiến năm 2021, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa sẽ sản xuất và cung ứng cho thị trường trong và ngoài tỉnh khoảng 30.000 liều tinh trâu và 200.000 liều tinh bò thịt chất lượng cao và tiếp tục đào tạo kỹ thuật viên dẫn tinh cho cán bộ khuyến nông, thú y trên địa bàn các huyện trong tỉnh.

Một số hình ảnh trâu, bò đực giống và các con lai được lại tạo tại Thanh Hóa

Trâu đực giống Murrah đang được khai thác sản xuất tinh đông lạnh tại Thanh Hóa
Nghé lai F1Murrah được sinh ra từ tinh trâu đực giống Murrah bằng phương pháp TTNT
Bò đực giống Brahman được nhập khẩu từ Mỹ hiện đang nuôi dưỡng tại Thanh Hóa

 

 

Nghé lai F1Murrah được sinh ra từ tinh trâu đực giống Murrah bằng phương pháp TTNT
Bê lai Brahman ( Cái Zebu x đực Brahman) sinh ra tại Thanh Hóa

 

TS. Nguyễn Đình Hải

Viện trưởng Viện Nông nghiệp Thanh Hóa

Thanh Hóa nỗ lực phòng chống dịch tả lợn Châu Phi

Bệnh dịch tả lợn châu Phi xảy ra trên địa bàn Thanh Hóa đã hơn 7 tháng và vẫn diễn biến phức tạp. Các địa phương trên địa bàn tỉnh đang tiếp tục triển khai các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch nhằm hạn chế tối đa thiệt hại cho các hộ chăn nuôi, góp phần ổn định sản xuất. Thanh Hóa có tổng đàn 1,2 triệu con lợn, 500 trang trại, trên 2.300 gia trại, trên 190.000 hộ chăn nuôi. Kể từ khi có bệnh dịch tả lợn Châu Phi cho đến nay, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã được cấp 162.000 lít hóa chất, 896 tấn vôi bột phục vụ phòng, chống dịch, thực hiện tiêu độc, khử trùng tại các khu vực chăn nuôi, các chợ, điểm giết mổ, buôn bán lợn, thịt lợn và những khu vực có nguy cơ cao. Từ khi xảy ra dịch toàn tỉnh cũng đã thành lập hơn 600 trạm, chốt kiểm soát, tổ kiểm soát lưu động. thực hiện tuần tra, kiểm tra các hoạt động vận chuyển động vật, kinh doanh, các sản phẩm từ lợn. Đến nay trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì 272 chốt kiểm soát giám sát công tác phòng chống dịch bệnh. Nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại về kinh tế do dịch tả lợn Châu Phi gây ra, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hóa đang tiếp tục chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố đặc biệt quan tâm kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ đàn lợn, thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời, đặc biệt ở khu vực đang xảy ra dịch nhằm hạn chế thấp nhất dịch bệnh tả lợn Châu Phi lây lan trên địa bàn.

Bệnh dịch tả lợn châu Phi xảy ra trên địa bàn Thanh Hóa đã hơn 7 tháng và vẫn diễn biến phức tạp. Các địa phương trên địa bàn tỉnh đang tiếp tục triển khai các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch nhằm hạn chế tối đa thiệt hại cho các hộ chăn nuôi, góp phần ổn định sản xuất.
Thanh Hóa có tổng đàn 1,2 triệu con lợn, 500 trang trại, trên 2.300 gia trại, trên 190.000 hộ chăn nuôi. Kể từ khi có bệnh dịch tả lợn Châu Phi cho đến nay, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã được cấp 162.000 lít hóa chất, 896 tấn vôi bột phục vụ phòng, chống dịch, thực hiện tiêu độc, khử trùng tại các khu vực chăn nuôi, các chợ, điểm giết mổ, buôn bán lợn, thịt lợn và những khu vực có nguy cơ cao. Từ khi xảy ra dịch toàn tỉnh cũng đã thành lập hơn 600 trạm, chốt kiểm soát, tổ kiểm soát lưu động. thực hiện tuần tra, kiểm tra các hoạt động vận chuyển động vật, kinh doanh, các sản phẩm từ lợn. Đến nay trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì 272 chốt kiểm soát giám sát công tác phòng chống dịch bệnh.
Nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại về kinh tế do dịch tả lợn Châu Phi gây ra, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hóa đang tiếp tục chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố đặc biệt quan tâm kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ đàn lợn, thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời, đặc biệt ở khu vực đang xảy ra dịch nhằm hạn chế thấp nhất dịch bệnh tả lợn Châu Phi lây lan trên địa bàn.
Nguồn tin: Truyền hình Thanh Hóa

Bắt giữ xe tải chở lợn không có giấy tờ kiểm dịch

Các lực lượng chức năng tỉnh Thanh Hóa vừa phát hiện, bắt giữ một xe tải chở lợn không có giấy tờ kiểm dịch từ Ninh Bình vào Thanh Hóa tiêu thụ.

Theo thông tin từ Chi cục Thú y tỉnh Thanh Hóa, cho biết: Khoảng 20h tối 3-7, lực lượng liên ngành tại Chốt kiểm dịch động vật Thành Vân, huyện Thạch Thành đã phát hiện xe tải mang BKS 17C-037.84 chở 8 con lợn nái có trọng lượng 1600kg, có biểu hiện ốm yếu, không có giấy tờ kiểm dịch từ xã Tân Thành, huyện Kim Sơn (Ninh Bình) vào huyện Hoằng Hóa tiêu thụ.

Được biết, số hàng này là của ông là Hoàng Văn Sơn, sinh năm 1976, xóm 3, xã Tân Thành, huyện Kim Sơn (Ninh Bình).

Để qua mắt lực lượng chức năng, Hoàng Văn Sơn xuất phát từ xã Tân Thành đi đường vòng, tránh Chốt kiểm dịch động vật Quốc lộ 10, Dốc Xây nhưng đến Chốt kiểm dịch động vật Thành Vân thì bị bắt giữ.

Lực lượng chức năng tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt đối tượng 7 triệu, đồng thời tiêu hủy toàn bộ số lợn trên.

Kiểm tra công tác phòng chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn TP. Thanh Hóa

Sáng 26/6/2019, đồng chí Nguyễn Viết Thái – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT đã đi kiểm tra công tác phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn TP. Thanh Hóa. Cùng đi có đại diện phòng Chăn nuôi, Văn phòng Sở, Chi cục Thú y và các đơn vị có liên quan.

Đoàn công tácđã đi kiểm travà chỉ đạo thành phố Thanh Hóa cũng như các huyện có kênh Bắc đi qua tiến hành lập rào chắn trên kênh Bắc nhằm ngăn rác, xác động vật vứt trên kênh, bảo vệ môi trường cũng như ngăn ngừa lây lan dịch tả lợn Châu Phi.

Kiểm tra thực tế tạicống Mật Sơn, phường Đông Vệ và cống Đường Sắt, phường Phú Sơn, đồng chí Nguyễn Viết Thái – Phó Giám đốc Sởđề nghịUBND thành phố Thanh Hóa sớm lập rào chắn trên kênh Bắc điểm tiếp giáp với huyện Đông Sơn để ngăn xác động vật, rác trôi vào địa bàn thành phố. Các huyện có tuyến kênh Bắc đi qua như: Thường Xuân, Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Đồng Sơn, Quảng Xương cũng như Công ty TNHH một thành viên Sông Chu thường xuyên trực gác trên các cống, các rào chắn trên tuyến kênh, kịp thời trục vớt xác động vật, rác thải, tiến hành tiêu hủy theo đúng hướng dẫn để khơi thông dòng chảy, đảm bảo nguồn nước, môi trường và phòng chống sự lây lan của dịch tả lợn Châu Phi. Các hóa chất, vải bạt sau khi tiêu hủy phải được phun tiêu độc khử trùng rắc vôi bột để không ảnh hưởng đến môi trường, hạn chế tối đa lây lan dịch bệnh.

Hiện dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến hết sức phức tạp trên địa bàn tỉnh, do đó tình trạng vứt xác lợn chết trên các tuyến kênh sẽ tiềm ẩn nguy cơ cao về lây lan dịch bệnh. Việc lập rào chắn, quản lý chặt tình trạng người dân vứt xác động vật, rác xuống kênh sẽ góp phần giảm ô nhiễm môi trường và ngăn chặn sự lây lan các mầm bệnh trên đàn vật nuôi.

Nguồn tin: Văn phòng Sở NNTH

Kiểm tra công tác phòng chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn TP. Thanh Hóa

Sáng 26/6/2019, đồng chí Nguyễn Viết Thái – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT đã đi kiểm tra công tác phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn TP. Thanh Hóa. Cùng đi có đại diện phòng Chăn nuôi, Văn phòng Sở, Chi cục Thú y và các đơn vị có liên quan.

Đoàn công tácđã đi kiểm travà chỉ đạo thành phố Thanh Hóa cũng như các huyện có kênh Bắc đi qua tiến hành lập rào chắn trên kênh Bắc nhằm ngăn rác, xác động vật vứt trên kênh, bảo vệ môi trường cũng như ngăn ngừa lây lan dịch tả lợn Châu Phi.

Kiểm tra thực tế tạicống Mật Sơn, phường Đông Vệ và cống Đường Sắt, phường Phú Sơn, đồng chí Nguyễn Viết Thái – Phó Giám đốc Sởđề nghịUBND thành phố Thanh Hóa sớm lập rào chắn trên kênh Bắc điểm tiếp giáp với huyện Đông Sơn để ngăn xác động vật, rác trôi vào địa bàn thành phố. Các huyện có tuyến kênh Bắc đi qua như: Thường Xuân, Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Đồng Sơn, Quảng Xương cũng như Công ty TNHH một thành viên Sông Chu thường xuyên trực gác trên các cống, các rào chắn trên tuyến kênh, kịp thời trục vớt xác động vật, rác thải, tiến hành tiêu hủy theo đúng hướng dẫn để khơi thông dòng chảy, đảm bảo nguồn nước, môi trường và phòng chống sự lây lan của dịch tả lợn Châu Phi. Các hóa chất, vải bạt sau khi tiêu hủy phải được phun tiêu độc khử trùng rắc vôi bột để không ảnh hưởng đến môi trường, hạn chế tối đa lây lan dịch bệnh.

Hiện dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến hết sức phức tạp trên địa bàn tỉnh, do đó tình trạng vứt xác lợn chết trên các tuyến kênh sẽ tiềm ẩn nguy cơ cao về lây lan dịch bệnh. Việc lập rào chắn, quản lý chặt tình trạng người dân vứt xác động vật, rác xuống kênh sẽ góp phần giảm ô nhiễm môi trường và ngăn chặn sự lây lan các mầm bệnh trên đàn vật nuôi.

Nguồn tin: Văn phòng Sở